Các bài thuốc dan gian quý hiếm

Sò huyết và Sò lông trong Đông Nam dược

Đông, Nam duọc dùng thịt và vỏ của Sò huyết cũng như Sò lông để làm thuốc.
Sò huyết (Nê kham), So lông (Mao kham). Thịt So huyết gọi là Ngõa lăng nhục, đuọc xem là có vị ngọt, tính ấm, không độc; có các tác dụng bổ huyết, ôn trung, kiện vị. Dùng để trị “huyết hu’ gây tê, teo; trị đau bao tủ; tiêu hóa bất thuòng.
Vỏ Sò huyết (Ngõa lăng tử). Duọc liệu là vỏ Sò huyết rủa sạch, phoi khô, đập vụn và nung đến khi đỏ hồng, để nguội rồi tán thhnh bột. Ngõa lăng tửđuọc xem là có vị ngọt mặn, tính bình, có tác dụng “hóa đàm”, tán ứ và tiêu tích. Dùng trị đau bao tủi ợchua, bụng có khối u.
Duọc học cổ truyền Trung Quốc dùng vỏ của các loại Sò huyết: Area (= Anadara) inflata, A granosa hay A subcrenala (Sò lông) để lam thuốc va gọi duói tên Wa- leng-zi. Nhật dưọc(Kampo) gọi vị thuốc là Gaiyoshi và Hàn duọc la Wabansja.