Các bài thuốc dan gian quý hiếm

Bồ ngót trong y học cổ truyền

Theo đông y, Bồ ngót có vị ngọt, tính mát, có tác dụng lọi tiểu, giải độc, lưong huyết. Liều dùng 50 -100 g rau tuơi nấu canh ăn hoặc giã nát chê nuóc sôi vào, để nguội uống. Rễ trị sốt nóng, viêm bàng quang. Tri rắn độc cắn: một nắm rau Bồ ngót va dọt trắng cây Thom (Khóm) nhai nuốt nuóc, bã đắp vết cắn cang sóm càng tốt.
Vị thuốc mà nguòi viết bai nay muốn nhấn mạnh là ở hoạt chất papaverin và các sinh tôT, khoáng chất đặc biệt nhiều của rau Bồ ngót nói trên.
Papaverin trong rau Bồ ngót có tính thưgiãn cơ tron. Có thể ăn một tô canh rau Bồ ngót (tuong ứng với 30 – 50 g Bồ ngót tưoi), như là vị thuôc trong các truờng họp bị co thắt cơ trơn (co thắt ruột gây tiêu chảy, đau bụng dọa sẩy thai, co thắt mạch máu gây đau đầu, nhúe cơ, gây mất ngủ, cao huyết áp, hoặc thiếu máu não ở nguời lớn tuổi…). Không dùng rau Bồ ngót trong các trubng họp nhức đầu, tăng huyết áp nội sọ, táo bón, ngủ gà ngủ gật, bệnh phù niêm do suy tuyến giáp.
Trè con bị tua luõi, viêm họng, có váng trắng đóng trong họng (nhiễm nấm)… có thể dùng một nhúm rau Bồ ngót rủa sạch, giã nát, hoa với 1 muỗng canh mật ong để rơ miệng, ngày vài ba lần sẽ mau khỏi.
Các hoạt chất và duõng chất đều nam ở nhu mô của lá và đọt rau, do đó ăn rau Bồ ngót phải nhai kỹ và ăn luôn xác mói hưỏng đưọc các duõng chất nói trên. Dùng rau Bồ ngót rủa sạch, xay sinh tô uống càng tốt.
100 g rau Bồ ngót dư sức cung cấp nhu cầu sinh tô c cho một người lớn. Nửa lạng (50 g) rau Bồ ngót đủ cung cấp sinh tố A cho 3 đúa trẻ hoặc 1 nguòi lón. Vói các đặc tính nêu trên, cùng vói sinh tô c và tiền sinh tô A (beta – caroten, vào cơ thể sẽ biến thành sinh tô A) lầ nguồn chất chống oxy hóa, chống lão hóa, ngùa ung thư và gia tăng sức đề kháng cơthể, cho nên có thế nói “rau Bồ ngót là cây rau bảo thọ”